HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI (PHẦN 3)

26-02-2016

Phần 3

HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI NHIỆM KỲ III (6/2007 – 9/2010)

 

1.  Nội dung các chương trình công tác:

Theo Quyết định 26/2007/QĐ-TTg ngày 15/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt quy hoạch phát triển mía đường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thì mục tiêu đến năm 2010 là sản xuất 1,4 triệu tấn đường công nghiệp với tổng công suất các NMĐ là 105.000 TMN. Một số NMĐ sẽ được mở rộng công suất phù hợp với quy hoạch phát triển mía 300.000 ha (trong đó vùng nguyên liệu tập trung là 250.000 ha), với 4 vùng trọng điểm là: Bắc Trung Bộ, Duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và ĐBSCL.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, toàn ngành mía đường phải tạo ra bước đột phá trong việc chăm lo phát triển các vùng mía để có năng suât cao, chất lượng tốt (bình quân cả nước không dưới 65 tấn/ha, 11 CCS), nâng cao trình độ công nghệ chế biến tại các NMĐ, phối hợp tốt giữa sản xuất mía và sản xuất đường, giải quyết tốt khâu tiêu thụ sản phẩm.

Với việc nước ta gia nhâp WTO vào năm 2007 đồng thời thực hiện các cam kết theo Hiệp định Thương mại tự do ASEAN (AFTA) nhiệm kỳ 3 của Hiệp hội là nhiệm kỳ trong hội nhập  kinh tế quốc tế với những cơ hội và thách thức lớn.

Cơ hội lớn là hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, có thể tranh thủ đế đầu tư chiều sâu cho các vùng mía và NMĐ, mở rộng quy mô sản xuất ở những nơi có điều kiện, tranh thủ áp dụng công nghệ hiện đại và tiên tiến vào các lĩnh vực của sản xuất và kinh doanh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.

Thách thức lớn là: theo cam kết WTO, Việt Nam phải mở cửa nhập khẩu đường ngay từ năm đầu gia nhập (2007) 55.000 tấn và tăng 5% mỗi năm tiếp theo; thuế suất nhập khẩu trong hạn ngạch 40% với đường tinh luyện và 25% với đường thô, ngoài hạn ngạch: 85%. Theo AFTA thuế suất nhập khẩu đường trong hạn ngạch giảm xuống 30% năm 2007 và còn 5% năm 2010 đối vơi cả hai loại đường tinh luyện và đường thô.

Các chương trình công tác của nhiệm kỳ 3 là:

a)     Phát triển nguyên liệu mía.

b)     Nâng cao trình độ công nghệ chế biến tại các NMĐ.

c)     Hợp tác tiêu thụ sản phẩm và quản lý thị trường.

d)     Kiện toàn xây dựng và phát triển Hiệp hộ.

 

2. Tình hình thực hiện các chương trình công tác

Báo cáo tổng kết hoạt động của Hiệp hội nhiệm kỳ 3 đã nêu bật một số đặc điểm của tình hình những năm 2007 - 2010 và việc thực hiện các chương trình công tác của Hiệp hội như sau:

2.1.  Đặc điểm tình hình nhữg năm 2007 – 2010:

2.1.1. Giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới và trong nước biến động lớn trong năm 2007, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế trên phạm vi toàn cầu đã tác động rất bất lợi đến ngành mía đường nước ta.

2.1.2.  Thực hiện mở cửa trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế sản phẩm đường Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với đường nhập khẩu (chính ngạch và nhập lậu) từ Thái Lan, nước chiếm vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu đường.

2.1.3. Việc triển khai thực hiện QĐ 28/2004/QĐ-TTg kéo dài từ năm 2004 đến năm 2010 mới hoàn thành.

2.1.4.  Việc triển khai thực hiện QĐ 26/2007/QĐ-TTg không đạt kết quả như mong muốn (sẽ được nêu rõ ở dưới).

2.1.5.  Hội nghị lần thứ 7 Trung ương Đảng khoá X có Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về nông nghiệp - nông dân - nông thôn. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết này tạo cho ngành mía đường những thuận lới mới để phát triển, như:  

- Khuyến nông cho mía được coi là khuyến nông trọng điểm.

+ Về giống mía, Bộ Nông nghiệp & PTNT có văn bản số 459/BNN-KH ngày 11/2/2010 hướng dẫn triển khai Quyết định số 2194/QĐ-TTg ngày 25/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020. Trên cơ sở đó các doanh nghiệp phối hợp với Sở Nông nghiệp & PTNT xây dựng dự án trình UBND tỉnh phê duyệt để hỗ trợ công tác giống (xây dựng cơ sở hạ tầng của hệ thống khảo nghiệm, nhân giống mía) nhằm phát triển giống mới trong vùng nguyên liệu của mình.

+ Về cơ giới hoá, Chính phủ đã có Nghị quyết 48/NQ-CP ngày 23/9/2009 về cơ chế, chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thuỷ sản, trong đó có các chính sách hỗ trợ cơ giới hoá trong canh tác và thu hoạch.

+ Về thuỷ lợi, từ giữa năm 2010, Bộ Nông nghiệp & PTNT đã triển khai đấu thầu đề tài nghiên cứu việc tưới cho mía.

+ Ngày 4/6/2010, Chính phủ ra Nghị định 61/2010/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn...

2.1.6. Việc triển khai thực hiện các gói kích cầu của Chính phủ theo các Quyết định 131/QĐ-TTg ngày 23/1/2009, Quyết định 443/QĐ-TTg ngày 4/4/2009 và Quyết định 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 đã giúp nhiều doanh nghiệp thoát khỏi thua lỗ.

Trong năm 2009, Chính phủ đã có hàng loạt biện pháp đối phó với tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới để ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn chặn đà suy giảm kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội.

Cùng với các doanh nghiệp trong nước, các công ty mía đường cũng được Nhà nước hỗ trợ lãi suất 4%/năm. Sự hỗ trợ này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tiếp tục đầu tư chiều sâu vào NMĐ và vùng mía.

Kết quả kinh doanh 3 năm 2007, 2008, 2009, cho thấy rõ số NMĐ làm ăn có lãi và hoà vốn năm 2007 là 36/39, năm 2008 là 31/40, năm 2009 là 37/40.

Số NMĐ bị lỗ năm 2008 nhiều hơn các năm khác (tới 9/40 NMĐ) là do giá cả trên thị trường trong và ngoài nước biến động lớn, do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới. Năm 2009 số NMĐ bị lỗ chỉ còn 3/40 là nhờ có các gói kích cầu của Chính phủ và giá đường thế giới và trong nước được cải thiện.

2.2. Kết quả thực hiện QĐ 26/2007/QĐ-TTg đạt thấp và nguyên nhân:

Trong các chỉ tiêu nêu ra cho đến năm 2010 chỉ có một chỉ tiêu được thực hiện vượt mức là tổng công suất các NMĐ: đến vụ sx 2008/09 đã đạt 105,750 TMN, cao hơn mức 105.000 TMN cho năm 2010. Các chỉ tiêu về mía đạt thấp, sản lượng đường giảm. Diện tích mía giảm từ 306.600 ha vụ 2007/08 xuống 265.136 ha vụ 2009/10, năng suất mía bình quân và lượng mía ép tại các NMĐ giảm tương ứng từ 54,1 tấn/ha và  12.129.600 tấn xuống 51,7 tấn/ha và 9.568.800 tấn. Sản lượng đường công nghiệp giảm từ 1.149.100 tấn xuống 889.450 tấn.

Kết quả thực hiện như trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.

2.2.1. Nguyên nhân khách quan:

a) Đáng lưu ý nhất là tình hình thị trường năm 2007 và 2008. Cuối năm 2007 và trong năm 2008 giá vật tư hàng hoá trên thế giới biến động phức tạp, thậm chí tăng đột biến. Giá dầu thô New York từ 50,48 USD/thùng (8/1/2007) tăng lên 98,91 USD/thùng (22/11/2007). Giá phân Yuzhnny từ 240 USD/tấn (FOB, 9/8/2007) tăng lên 400 USD/tấn (FOB, 9/12/2007). Gạo xuất khẩu của Việt Nam bình quân năm 2007 là 328,89 USD/tấn nhưng năm 2008 đã có lúc tới 950 – 1.030 USD/tấn tại thị trường Châu Á (hồi cuối tháng 4/2008).

Trong khi đó, nguồn cung đường thế giới dư thừa so với nhu cầu tiêu thụ (theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, vụ 2006/2007 dư thừa 3,5 triệu tấn, vụ 2007/2008 dư thừa khoảng 12 triệu tấn) đã tạo sức ép giá đường tiếp tục giảm. Tại Luân Đôn, đường trắng từ 337 USD/tấn (1/1/2007) giảm xuống còn 266,3 USD/tấn (13/9/2007).

Trong nước: Đến cuối tháng 11/2007, giá bán lẻ xăng A92 là 13.000 đ/lít (tăng 23,8% so đầu năm), Diezel 0,2SS là 10.200 đ/lít (tăng 16,8%), Madút là 8.500 đ/lít (tăng 41,6%). Giá bán lẻ phân Urê phổ biến ở mức 5.600 – 6.300 đ/kg (tăng 1.100 – 1.600 đ/kg so với đầu năm)... Giá đường kính trắng vào cuối tháng 12/2007 dao động ở mức 7.400 – 7.700 đ/kg (có VAT), chỉ gần bằng 1,3 kg gạo tẻ thường (5.800 – 6.800 đ/kg). Với giá đường như trên, các NMĐ thực hiện giá mua mía vụ 2007/2008: 350.000 – 450.000 đ/tấn mía 10 CCS tại ruộng. Do giá đầu vào tăng cao, người trồng mía có lãi ít hoặc thậm chí bị lỗ, việc đầu tư cho cây mía giảm. Một số trường hợp nông dân phá bỏ mía trồng sắn, cao su và các cây trồng khác cho thu nhập cao hơn.

Trái ngược với những năm 2007, 2008, do sản lượng đường thế giới (theo F.O.LICHT) vụ 2008/2009 chỉ đạt 150 triệu tấn và vụ 2009/2010 chỉ đạt 155 triệu tấn, hụt so với vụ 2006/2007 (166,7 triệu tấn) và vụ 2007/2008 (169 triệu tấn), làm cho việc đáp ứng nhu cầu từ thừa sang thiếu hụt nhất trong vòng 20 năm, vào năm 2010. Do đó, giá đường thế giới và trong nước đã tăng cao. Giá đường trắng Luân Đôn đạt tới 700,2 USD/tấn (29/12/2009) và thậm chí tới 744,3 USD/tấn (26/1/2010). Giá bán buôn đường kính trắng trên thị trường trong nước vào đầu vụ sản xuất 2009/2010 (đầu tháng 9/2009) khoảng 13.000 đ/kg, vào cuối vụ (tháng 4/2010) khoảng 14.000 – 14.500 đ/kg.

Nhờ đó giá mía cũng được nâng lên, trung bình cả nước vụ 2009/2010 trong khoảng 800.000 – 900.000 đ/tấn mía 10 CCS tại ruộng. Riêng tại ĐBSCL giá mía cuối vụ khoảng 1.200.000 – 1.300.000 đ/tấn.

Giá mía tăng cao như trên đã khuyến khích nông dân mở rộng diện tích và tăng cường chăm bón mía, nhưng không kịp giúp nâng cao sản lượng mía và đường vụ 2009/2010, mà giúp cải thiện tình hình vụ 2010/2011.

b) Thời tiết khắc nghiệt: bão lũ nặng nề ở miền Trung – Tây Nguyên và ở một số nơi khác, nắng hạn kéo dài ở nhiều vùng từ miền Bắc đến miền Nam (2 vụ 2008/2009 và 2009/2010, bão lũ đã làm thiệt hại khoảng 20% sản lượng đường ở miền Trung – Tây Nguyên).

c)  Diện tích vùng mía của một số NMĐ (như Quảng Phú, Hiệp Hoà,...) giảm mạnh do sự ra đời của các khu công nghiệp và đô thị hoá.

d) Do sản lượng và chất lượng mía giảm sút, giá vật tư đầu vào tăng cao, cùng với tác động của việc Chính phủ thắt chặt quản lý tiền tệ trong năm 2008, lãi suất ngân hàng tăng cao, nhiều doanh nghiệp khó khăn về vốn, sản xuất kinh doanh giảm sút và một số doanh nghiệp bị lỗ.

e) Việc ngăn chặn tình trạng nhập lậu và buôn bán đường lậu gặp nhiều khó khăn, phức tạp, hiệu quả chưa cao đã gây bất lợi cho sản xuất đường trong nước.

f) Các vùng mía còn tồn tại nhiều khó khăn do cơ sở hạ tầng giao thông thuỷ lợi còn nhiều yếu kém. Tình trạng vùng mía xa NMĐ, sự đan xen giữa các cây trồng và sản xuất manh mún còn nhiều. Các vấn đề về giống mía, cơ giới hoá và kỹ thuật thâm canh còn nhiều hạn chế. Việc quy hoạch vùng mía ở nhiều địa phương chưa được giải quyết dứt điểm. Nhìn chung, Quyết định 26/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã định hướng và tạo điều kiện cho ngành mía đường phát triển. Tuy nhiên sự chỉ đạo và tổ chức triển khai chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ, trong quá trình thực hiện thiếu sự kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời các khó khăn.

2.2.2. Nguyên nhân chủ quan:

a)     Một số Cty/NMĐ, trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn khách quan, còn thiếu chủ động bám sát các cấp chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng để tranh thủ sự ủng hộ, hỗ trợ việc quy hoạch và đầu tư của Nhà nước đối với vùng mía. Còn nhiều trường hợp chưa xúc tiến được việc ký hợp đồng đầu tư – bao tiêu sản phẩm với người trồng mía, thiếu sự hỗ trợ của các NMĐ đối với nông dân về vốn, vật tư, phân bón, giống mía...

Một số Cty/NMĐ chưa thực hiện theo đúng sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp & PTNT và khuyến cáo của Hiệp hội là tổ chức mua mía theo chữ đường mà mua xô nên không khuyến khích nông dân quan tâm nhiều đến chất lượng mía. Bộ và Hiệp hội cũng khuyến cáo giá mua 1 tấn mía 10 CCS tại ruộng tương đương giá bán 60 kg đường kính trắng loại I, trước thuế, tại kho NMĐ. Trong thực tế, nếu quy về mía 10 CCS tại ruộng thì vẫn còn nhiều trường hợp mua thấp hơn so với  khuyến cáo như trên, người nông dân bị thiệt, có lúc, có nơi không thiết tha với cây mía.

b)     Sự phối hợp của các công ty/NMĐ ở những nơi có vùng mía chung (như ở ĐBSCL) hoặc vùng mía của các NMĐ giáp ranh và đan xen nhau (như ở ĐBSCL và miền Trung – Tây Nguyên) còn nhiều bất cập. Việc kích giá để tranh giành mía thiếu lành mạnh dẫn đến lộn xộn và xâm phạm đến cả vùng mía có đầu tư của NMĐ khác. Đặc biệt tình trạng ép mía non (dưới 8 CCS) đã làm tổn thất sản lượng mía và sản lượng đường.

2.3.  Về việc thực hiện các chương trình công tác của Hiệp hội:

2.3.1. Phát triển nguyên liệu mía:

Để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của từng NMĐ trước hết phải giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu mía. Hiệp hội chủ trương phối hợp nỗ lực của toàn thể thành viên, tranh thủ sự chỉ đạo và hỗ trợ của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, hợp tác chặt chẽ với nông dân xây dựng vùng nguyên liệu mía của các NMĐ có năng suất cao, chất lượng tốt.

a) Quy hoạch vùng mía:

Căn cứ Quyết định 26/2007/QĐ-TTg, các công ty/NMĐ đã chủ động phối hợp cùng Sở Nông nghiệp & PTNT rà soát quỹ đất và xây dựng quy hoạch vùng mía để tỉnh xem xét phê duyệt. Đồng thời, Hiệp hội đã liên tục kiến nghị Chính phủ, Bộ Nông nghiệp & PTNT và các địa phương sớm giải quyết dứt điểm việc quy hoạch vùng mía cho các NMĐ, bảo đảm đủ diện tích và ổn định, không đan xen với các cây trồng khác như cao su, sắn, v.v... Ngoài ra, Hiệp hội còn có văn bản báo cáo Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội về tình hình ngành mía đưòng và đề nghị tác động đến các địa phương thực hiện quy hoạch vùng mía cho các NMĐ theo Quyết định 26/2007/QĐ-TTg. Tiểu vùng ĐBSCL đã phối hợp với các Sở Nông nghiệp & PTNT trong khu vực về việc phân bổ mía cho các NMĐ. Tiểu vùng Đông Nam Bộ phối hợp các công ty/NMĐ ở Tây Ninh liên tục bám sát Sở Nông nghiệp & PTNT và lãnh đạo tỉnh Tây Ninh để giải quyết vấn đề quy hoạch vùng mía cho 3 NMĐ ở Tây Ninh. Vùng miền Trung – Tây Nguyên tích cực đề nghị và đã được UBND tỉnh Gia Lai phê duyệt quy hoạch vùng mía trong tỉnh cho các NMĐ, trong đó có NMĐ An Khê (trên địa bàn tỉnh Gia Lai) và NMĐ Bình Định (trên địa bàn tỉnh Bình Định).

Tuy nhiên do việc cạnh tranh giữa các cây trồng rất gay gắt, do còn nhiều phức tạp trong việc bố trí cơ cấu cây trồng và cũng do có trường hợp thiếu mặn mà với cây mía nên vẫn còn một số địa phương chưa phê duyệt quy hoạch vùng mía cho các NMĐ một cách cụ thể. Về phía Hiệp hội, các hoạt động xúc tiến quy hoạch vùng mía cũng mới chỉ ở việc khuyến cáo các doanh nghiệp chủ động bám sát Sở Nông nghiệp & PTNT và chính quyền địa phương giải quyết, cũng như có các văn bản kiến nghị đến Chính phủ và Quốc hội, nhưng chưa có kế hoạch đến gặp lãnh đạo các tỉnh vùng mía để trực tiếp đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm tháo gỡ vướng mắc trong việc quy hoạch vùng mía cho các NMĐ. 

b) Giống mía:

Hiệp hội luôn luôn kiến nghị với Chính phủ và Bộ Nông nghiệp & PTNT quan tâm nhiều hơn nữa đến vấn đề giống mía và nên có chương trình quốc gia về giống mía – vì đây là biện pháp hàng đầu để nâng cao năng suất và chất lượng mía. Các công ty/NMĐ cũng đã chủ động khai thác các giống mía tốt tại chỗ cũng như các giống mía từ Trung tâm nghiên cứu mía Bến Cát và từ các nơi khác trong nước đồng thời tiếp nhận một số giống mía mới nhập ngoại.

Với sự nỗ lực phối hợp chung của các công ty/NMĐ với các cơ sở nghiên cứu giống và nông dân trồng mía, từ năm 2006 đến năm 2010, theo tổng hợp của Trung tâm nghiên cứu mía Bến Cát, đã có trên 100 giống mía được khảo nghiệm cơ bản và trên 50 giống mía đã được khảo nghiệm sản xuất. Ở các vùng mía của Công ty CP Mía Đường Lam Sơn và Công ty CP Mía Đường Cần Thơ, số giống mới đã chiếm trên 50% diện tích. Tuy vậy, nhìn chung toàn ngành, công tác giống mía chưa tạo ra bước đột phá về năng suất và chất lượng mía.

c) Thuỷ lợi:

Một số công ty như Công ty CP Mía Đường Nước Trong đã lắp đặt hệ thống điện lưới để bơm nước tưới cho mía trên diện rộng. Công ty CP Mía Đường La Ngà, Công ty CP Mía Đường Lam Sơn và Công ty CP Đường Biên Hoà đã áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt và cho kết quả tốt (theo thông tin của Công ty CP Mía Đường Lam Sơn năng suất mía đạt trên 150 tấn/ha).

Tuy có những cố gắng như trên, nhưng nhìn chung cả nước, việc tưới cho mía chủ yếu trông vào nước trời.

d) Cơ giới hoá:

Cùng với việc sử dụng máy kéo loại nhỏ, một số công ty mía đường (Lam Sơn, Quảng Ngãi, La Ngà, Biên Hoà) đã tiến lên mua máy kéo cỡ lớn như MTZ892 và áp dụng cày sâu 40 – 50 cm. Do các máy kéo lớn phải nhập từ nước ngoài, Hiệp hội đã có văn bản kiến nghị Chính phủ cho các doanh nghiệp được nhập khẩu với mức thuế ưu đãi để phục vụ việc sản xuất mía (tuy nhiên đề nghị trên đã không được chấp thuận). Ngoài ra một số công ty mía đường còn trang bị thêm các máy trồng, chăm bón và thu hoạch mía. Công ty CP Đường Quảng Ngãi đã chế tạo hàng chục máy trồng mía. Công ty CP Mía Đường Lam Sơn hợp tác với Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch thử nghiệm một số máy thu hoạch mía, v.v...

Tóm lại, trong nhiệm kỳ 3, cùng với công tác khuyến nông được tăng cường, công tác giống mía, thuỷ lợi, và cơ giới hoá đã được quan tâm và có các giải pháp nhiều hơn trước.

Một số công ty như Bourbon Tây Ninh, Biên Hoà, Khánh Hoà đã cùng phối hợp đi khảo sát học tập kinh nghiệm mía đường ở Philipin và mời lãnh đạo Viện nghiên cứu mía đường Philipin sang giao lưu trao đổi kinh nghiệm với một số NMĐ ở Việt Nam.

Tuy toàn ngành đã có những cố gắng như trên, nhưng năng suất và chất lượng mía bình quân 2 vụ 2008/09 và 2009/2010 giảm thấp, còn 50 tấn/ha (vụ 2008/09) và 51,7 tấn/ha (vụ 2009/2010) ; chữ đường của mía đạt 9,9 CCS (vụ 2008/09) và 9,8 CCS (vụ 2009/2010).

Nguyên nhân của tình trạng năng suất và chất lượng mía đạt thấp như trên đã được phân tích ở điểm 2.2.

Cần lưu ý thêm là đối với nội bộ, Hiệp hội luôn luôn khuyến cáo các công ty/NMĐ phải chủ động chăm lo phát triển vùng mía và nghiêm túc thực hiện Quyết định 58/2005/QĐ-BNN về Quy chế Phối hợp trong tiêu thụ mía và đường. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng thiếu đồng thuận và không nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết chung trong việc tổ chức thu mua mía ở một số nơi, kể cả việc ép mía non, Hiệp hội chưa có biện pháp hữu hiệu để khắc phục. Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong việc thu mua mía và ép mía non vụ 2009/2010 đã làm xấu đi hình ảnh của Hiệp hội trước báo giới và dư luận xã hội.

2.3.2. Nâng cao trình độ công nghệ chế biến ở các NMĐ:

Đến nhiệm kỳ 3 của Hiệp hội, các công ty/NMĐ đã có nhiều năm hoạt động. Được Bộ NN&PTNT và Hiệp hội động viên, khuyến khích, với kinh nghiệm bản thân và nắm bắt thông tin từ Hiệp hội hoặc trực tiếp từ các NMĐ trong nước và nước ngoài, nhiều NMĐ đã tự nghiên cứu áp dụng hoặc nhờ chuyên gia từ các viện nghiên cứu, trường đại học và NMĐ khác giúp đỡ hoàn thiện công nghệ sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất thu hồi đường, giảm chi phí chế biến, cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân và tăng cường bảo vệ môi trường. Có thể kể một số ví dụ như: cải tạo hệ thống ép mía (từ NMĐ Vạn Điểm chuyển vào) ở Nông Cống ; áp dụng hệ thống lắng nổi ở Đăk Nông ; cải tiến hệ thống lò hơi TMZ ở NMĐ Sông Lam, v.v...

Tổng công suất của các NMĐ trong 3 năm 2007 - 2010 đã tăng từ 87.500 TMN lên 105.750 TMN do nhiều NMĐ đã mở rộng quy mô sản xuất: Cao Bằng từ 700 lên 1.000 TMN, Sơn Dương từ 1.500 lên 2.150 TMN, Nông Cống từ 1.500 lên 2.000 TMN, Bình Định từ 1.500 lên 2.800 TMN, An Khê từ 2.000 lên 4.500 TMN, Ninh Hoà từ 1.700 lên 2.000 TMN, Vị Thanh từ 1.800 lên 3.500 TMN, Sóc Trăng từ 1.800 lên 2.500 TMN...

Nhiều công ty tự tổ chức đi công tác nước ngoài để tìm kiếm thông tin phục vụ việc nhập khẩu thiết bị và công nghệ. Tổng Công ty Mía Đường I tổ chức cho các Công ty CP Mía Đường Sơn Dương, Nông Cống, Trà Vinh đi tham quan triển lãm máy và công nghệ sản xuất đường ở Trung Quốc tổ chức tại Nam Ninh (tháng 3/2010).

Về phía Hiệp hội, cũng đã tham gia Đoàn khảo sát, nghiên cứu của Bộ NN&PTNT về tình hình sản xuất kinh doanh mía đường tại Quảng Tây, Trung Quốc tháng 12/2008. Tháng 4/2009 Hiệp hội tổ chức một đoàn đi khảo sát ngành mía đường Thái Lan. Tham gia Đoàn có gần 50 người, trong đó có lãnh đạo và cán bộ của 15  công ty và đại diện của Vụ Kinh tế ngành – Văn phòng Chính phủ, Cục Chế biến nông lâm thuỷ sản & nghề muối và Cục Trồng trọt - Bộ NN&PTNT, Vụ Thị trường trong nước - Bộ Công Thương, lãnh đạo và cán bộ một số Sở NN&PTNT. Ngoài ra, Hiệp hội còn phối hợp với công ty Nexgen của Ấn Độ trong việc tổ chức triển lãm về thiết bị đường của Ấn Độ tại Hà Nội vào tháng 3/2010 và mời các công ty/NMĐ đến tham quan.

Tuy nhiên, các hội thảo chuyên đề về kỹ thuật và công nghệ sản xuất, Hiệp hội chưa tổ chức được. Hiệp hội cũng không đứng ra tổ chức thành một đoàn chung của Hiệp hội để tham gia các Hội nghị Quốc tế Đường châu Á được tổ chức hằng năm, quan hệ của Hiệp hội với ngành mía đường các nước trong khu vực và thế giới còn nhiều hạn chế.

2.3.3. Hợp tác tiêu thụ sản phẩm và quản lý thị trường:

Các thành viên Hiệp hội đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ và bám sát tình hình tiêu thụ và diễn biến của thị trường để điều tiết bán ra, giữ ổn định giá cả mặt hàng đường. Hiệp hội thường xuyên khuyến cáo các công ty sản xuất và kinh doanh đường không găm hàng tạo sốt giá, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, đồng thời không bán tháo làm giá đường giảm mạnh gây thiệt hại chung cho các doanh nghiệp.

Để góp phần tháo gỡ khó khăn về vốn lưu động của các NMĐ, hạn chế tình trạng bán tháo đường vào dịp Tết nguyên đán, Hiệp hội đã có văn bản báo cáo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và lãnh đạo Hiệp hội có buổi làm việc với Vụ trưởng Vụ Tín dụng Ngân hàng Nhà nước vào tháng 12/2009.

Thường trực Hiệp hội cũng đã giao cho Văn phòng theo dõi sát tình hình thị trường thế giới và trong nước, thông tin cho hội viên định kỳ 1 tháng 2 lần vào giữa và cuối tháng, và kịp thời có thông tin cho hội viên khi có đột biến.

Là thành viên của Tổ Điều hành thị trường trong nước của Chính phủ, Thường trực Hiệp hội tham dự đều đặn các cuộc họp hàng tháng của Tổ, phản ảnh với Tổ để tổng hợp báo cáo Chính phủ tình hình sản xuất, tiêu thụ mía đường và những kiến nghị của Hiệp hội với Chính phủ và các Bộ ngành hữu quan nhằm góp phần ổn định tình hình thị trường, bảo vệ lợi ích của các NMĐ, người trồng mía và người tiêu dùng. Do mía đường là ngành sản xuất kinh doanh mang tính thời vụ và sản phẩm đường là mặt hàng thiết yếu, Hiệp hội kiến nghị Chính phủ cần có chính sách tạm trữ đường đê bình ổn thị trường, nhằm bảo đảm hài hoà lợi ích của người trồng mía, doanh nghiệp chế biến và người tiêu dùng (tuy nhiên cho đến nay kiến nghị trên vẫn chưa được giải quyết).

Hai năm 2009 và 2010, sản lượng đường giảm nhiều, gây căng thẳng trong việc giải quyết cân đối cung cầu, Hiệp hội luôn luôn khuyến cáo các doanh nghiệp hội viên tổ chức bán ra đều đặn, để ổn định thị trường. Trong tháng 9/2009, một số công ty như Vinamilk, Coca – Cola,… báo cáo Bộ Công thương xin nhập khẩu đường làm nguyên liệu cho sản xuất với lý do đường trong nước không đủ cung cấp và giá cao, Hiệp hội đã kịp thời yêu cầu một số đơn vị như Công ty CP Đường Biên Hoà, Công ty CP Đường Khánh Hoà, Công ty TNHH Công nghiệp KCP, Công ty Thực phẩm miền Bắc báo cáo khả năng cung cấp và hợp tác đáp ứng nhu cầu của các đơn vị nói trên, và Hiệp hội đã có văn bản báo cáo Bộ Nông nghiệp & PTNT và Bộ Công Thương về vấn đề này.

Để bảo đảm nguồn cung đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng đường trong nước, hai năm 2009 và 2010, Chính phủ đã cho phép nhập khẩu đường với số lượng lớn (năm 2009: nhập khẩu 110.000 tấn, năm 2010 đã cấp phép nhập 300.000 tấn).

Thực tế 2 năm 2009, 2010 lượng đường nhập khẩu đã vượt quá hạn ngạch cam kết WTO khá nhiều, nhưng vẫn áp dụng thuế suất nhập khẩu theo như cam kết trong hạn ngạch 64.000 tấn đường. Như vậy, việc bảo hộ của Chính phủ đối với ngành đường đã giảm rất nhiều so với trước đây.

Về nhập khẩu đường, Hiệp hội cũng đã liên tục kiến nghị Chính phủ, Bộ Nông nghiệp & PTNT và Bộ Công Thương cần thận trọng để bảo vệ ngành đường trong nước. Việc cấp phép nhập khẩu đường cần công khai, minh bạch, có hậu kiểm, và nên tiến tới đấu thầu nhập khẩu đường.

Về chống buôn lậu đường, Hiệp hội đã có rất nhiều văn bản gửi đến Ban Chỉ đạo 127/TW, và các địa phương như An Giang và Tp HCM về tình hình đường lậu tràn ngập và đề nghị có biện pháp ngăn chặn triệt để. Hiệp hội cũng có văn bản báo cáo Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội về vấn đề này. Tháng 4/2008 Hiêp hội hợp tác với Cty CP Đường Quảng Ngãi, Cty CP Đường Biên Hoà, Cty CP MĐ Sóc Trăng cùng tốp phóng viên VTV đi làm phóng sự về đường nhập lậu vào Châu Đốc và sau đó phát trên Đài truyền hình Việt Nam, gây được sự chú ý của dư luận, có tác động  tích cực đến các cơ quan chức năng trong việc chống buôn lậu đường.

Tuy nhiên có thể nói vấn đề đường lậu đã được đề cập quá nhiều nhưng biện pháp ngăn chặn không đáp ứng được yêu cầu. Để đối phó với với tình trạng gian lận thương mại và nhập lậu đường Hiệp hội đã đề xuất các công ty sản xuất đường dùng biện pháp kỹ thuật như may luôn tem bằng vải vào bao đường, trên đó thể hiện các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, ngày sản xuất, tên công ty, v.v…Hiệp hội cũng đề nghị các thành viên nghiên cứu Thông tư 75/2007/TT-BTC ngày 5/7/2007 Hướng dẫn về cơ chế thí điểm huy động kinh phí hỗ trợ công tác phòng, chống buôn lậu thuốc lá điếu và sản xuất, buôn bán thuốc lá giả để vận dụng đối với Hiệp hội Mía - Đường Việt Nam.

Tóm lại sự phối hợp trong việc tiêu thụ đường nhiệm kỳ qua là tương đối tốt. Tuy nhiên, tình hình thị trường đường trong nước hai năm 2009 và 2010 có nhiều biến động do sản xuất trong nước giảm sút và tác động của thị trường đường thế giới, trong khi đó kiến nghị của Hiệp hội với Chính phủ về quỹ bình ổn đối với mặt hàng đường chưa được giải quyết.

2.3.4.  Kiện toàn và phát triển Hiệp hội:

Trong nhiệm kỳ III, Hiệp hội chủ trương coi việc củng cố là chính, không kết nạp thêm hội viên mới. Riêng với người trồng mía vẫn có chủ trương kết nạp nhưng thực tế chưa thực hiện được.

Hoạt động của Hiệp hội được duy trì đều, việc sinh hoạt theo đúng Điều lệ, bảo đảm họp toàn thể Hiệp hội 2 lần/năm vào thời kỳ đầu và kết thúc vụ sản xuất. Riêng đầu năm 2010 đã họp tới 2 lần. Sinh hoạt của Ban Chấp hành cũng bảo đảm đúng quy định. Các Tiểu vùng tổ chức họp vào đầu vụ sản xuất. Riêng Tiểu vùng ĐBSCL đã tổ chức họp nhiều lần trong vụ sản xuất (vụ 2009/2010 họp 8 lần). Vùng miền Trung – Tây Nguyên cũng tổ chức họp một số lần giữa các vụ sản xuất để xử lý tranh chấp trong việc thu mua mía.

Việc thông tin cho các thành viên về tình hình sản xuất, tiêu thụ và thị trường thực hiện đều, nhưng thông tin chuyên đề về khoa học và công nghệ trong sản xuất và chế biến còn ít.

Nguyện vọng của nhiều hội viên là Hiệp hội phải làm được nhiều việc hơn nữa. Điểm lại Ban Chấp hành và Thường trực Hiệp hội đã có cố gắng thực hiện chức năng Hiệp hội là cầu nối giữa doanh nghiệp và Nhà nước và đã đề đạt với các cơ quan chức năng Nhà nước nhiều kiến nghị. Tuy nhiên trong hoàn cảnh khó khăn chung của đất nước và của ngành nông nghiệp nước ta, việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho ngành mía đường chưa được như mong đợi. Hoạt động của Hiệp hội cũng chưa mạnh để có thể tạo ra những bứt phá làm chuyển biến nhanh tình hình.

Vấn đề tồn tại lớn nhất của Hiệp hội là thiếu sự đồng thuận cao, nhất là trong việc tổ chức thu mua mía. Hiệp hội còn thiếu những quy định và chế tài mạnh mẽ để điều chỉnh hành vi của các thành viên nhằm giữ nghiêm kỷ cương, phát huy sức mạnh tổng hợp của một tổ chức.

Về khen thưởng, kỷ luật: Hiệp hội chưa có các hình thức động viên, khen thưởng thích hợp đối với tổ chức và cá nhân có nhiều đóng góp cho Hiệp hội. Còn về kỷ luật, trong năm 2010, Hiệp hội có xử lý kỷ luật cảnh cáo bằng văn bản đối với 1 công ty - hội viên Hiệp hội do chưa nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ và những quy định chung của Hiệp hội./.

 

--------------------------------
Ban Quản trị Website HH

Các tin khác

A PHP Error was encountered

Severity: Notice

Message: Undefined offset: 1

Filename: controllers/template.php

Line Number: 132

A PHP Error was encountered

Severity: Notice

Message: Undefined offset: 1

Filename: controllers/template.php

Line Number: 134

A PHP Error was encountered

Severity: Notice

Message: Undefined offset: 1

Filename: controllers/template.php

Line Number: 136

Thống kê truy cập

Online: 6 Lượt truy cập: 511247
Design by ISP