HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI (PHẦN 4)

10-04-2017

BÁO CÁO

TỔNG KẾT NHIỆM KỲ IV (2010 - 2013 )

 

PHẦN I

KHÁI QUÁT NGÀNH MÍA ĐƯỜNG VIỆT NAM TỪ NĂM 2010 – 2013

 

Nhờ các năm liên tiếp có lãi từ sau cổ phần hóa (2004 -2005) các doanh nghiệp mía đường tập trung đầu tư nâng công suất, đổi mới công nghệ, tăng cường khuyến nông phát triển nguyên liệu, giai đoạn này chủ yếu thuộc nhiệm kỳ III. Sang nhiệm kỳ IV nhiều doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, từ năm 2010 công suất ép đang ở 105.700 tấn mía/ngày, đến vụ 2013 – 2014 tổng công suất ép tăng vọt lên 142.200 tấn mía/ngày, khả năng có thể sản xuất được 2 triệu tấn đường/vụ, trong đó năng lực sản xuất đường tinh luyện chiếm tỉ lệ 50% trong tổng năng lực sản xuất.  

Trong giai đoạn này về phía nông dân trồng mía đạt được thu nhập tốt từ đó diện tích mía từ 242.413 ha vụ 2009 – 2010 đã tăng lên 306.000 ha vụ 2013 – 2014 kéo theo sản lượng đường tăng lên tương ứng từ 904.000 tấn tăng lên 1.600.000 tấn (dự báo). Nhiều nông dân trở nên giàu có nhanh chóng nhờ trồng mía vào giai đoạn này. Một số nhà máy đường bắt đầu đầu tư khai thác điện dư thừa từ bã mía để tăng thêm lợi ích góp phần giảm giá thành sản xuất ngoài các sản phẩm phụ truyền thống đã có như mật rỉ, phân vi sinh từ bã bùn và bã mía…

Tuy nhiên, 1 lần nữa quy luật cung cầu và việc ngăn chặn không hiệu quả đường nhập lậu suốt từ nhiều năm nay làm cho sự bảo hộ của Chính phủ đối với ngành mía đường không có nhiều ý nghĩa, cùng với tình trạng năng suất mía thấp, chất lượng kém, quy mô nhỏ lẻ, trong khi các doanh nghiệp mía đường trong nước vẫn đơn độc bảo hộ giá mía cho nông dân, thu nhập giảm dần và dần dần đuối sức. Từ năm 2013 các nhà máy đường cùng nông dân trồng mía bước vào chu kỳ khó khăn mới và đã xuất hiện thua lỗ từ ruộng mía đến nhà máy và nhà thương mại kinh doanh đường.

Có thể đánh giá chung là nhiệm kỳ IV Hiệp hội Mía đường Việt Nam là nhiệm kỳ có nhiều nỗ lực nhưng đầy sóng gió nhất là năm 2013, khi mà nền kinh tế suy thoái quy mô toàn cầu, ngành mía đường liên tục cung thừa cầu, sự hội nhập của Việt Nam và khuynh hướng bán tháo đường tồn kho của các nhà máy đường trong nước và trên thế giới.

 

PHẦN II

KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH

I/ Kết quả sản xuất kinh doanh đường các vụ ép trước và trong nhiệm kỳ IV của Hiệp hội:

Niên vụ mía

Chỉ tiêu kế hoạch theo quyết định 26/2007/QĐ - TTg và quyết định 124/2012/QĐ – TTg

Thực hiện

Tổng công suất TK

(TMN)

Diện tích mía nguyên liệu

Năng suất mía (tấn/ha)

Lượng mía ép

(tấn)

Chất lượng mía

Sản lượng đường

(tấn)

Tổng công suất TK

(TMN)

Diện tích mía nguyên liệu (ha)

Năng suất mía (tấn/ha)

Lượng mía ép

(tấn)

Chất lượng mía (CCS)

Sản lượng đường

(tấn)

2009/ 2010

105.000

300.000

65

19.500.000

11

1.400.000 

105.750

242.413

 

9.748.000

 

904.050

2010/ 2011

-

-

-

-

-

-

112.200

271.400

60,5

12.500.000

9,50

1.150.460

2011/ 2012

-

-

-

-

-

-

129.900

283.222

61,7

14.500.000

9,25

1.306.240

2012/ 2013

-

-

-

-

-

-

139.500

298.200

63,5

16.265.090

9,10

1.527.486

2013/ 2014

-

-

-

-

-

-

142.200

306.000

67

17.000.000

10,0

Ước 1.600.000

Định hướng đến 2020

140.000

300.000

80

24.000.000

12

2.000.000

 

 

 

 

 

 

(Nguồn: Cục Chế biến Thương mại nông lâm thủy sản & NM)

            Tính đến vụ 2013 -2014 một số chỉ tiêu đã đạt định hướng đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ gồm công suất ép, diện tích trồng mía; và gần đạt chỉ tiêu về lượng ép mía. Tuy nhiên năng suất mía và chất lượng mía còn thấp khá xa so với định hướng. Với tốc độ tăng năng suất, và chất lượng trong thời gian qua là quá chậm thì việc đạt năng suất 80 tấn/ha và chữ đường đạt 12 ccs vào năm 2020 đòi hỏi một nỗ lực vượt bậc, không như thời gian qua.  

II/ Lĩnh vực sản xuất nguyên liệu

            II.1/ Giá đường, giá mía:

            Từ vụ 2010 – 2011 đến nay giá đường liên tục giảm, giá đường bán buôn của các nhà máy có thuế tại kho nhà máy từ 16.200 – 18.500 đồng/kg nay giảm còn 12.000 – 13.500 đồng/kg, giá mía cũng giảm theo từ 980 – 1.200 đồng/kg nay xuống còn 800 – 1.000 đồng/kg loại 10 ccs tại ruộng và tùy theo từng vùng, từng nhà máy. Tuy giá mía đã giảm thấp nhưng so với mặt bằng giá mía các nước trong khu vực thì giá mía Việt Nam vẫn cao gấp 1,5 – 2,0 lần.

           

            II.2/ Tình hình cung cấp mía và thu nhập của nông dân:

-         Giá đường trong nước liên tục giảm sâu trong 3 niên vụ vừa qua nhưng giá mía không giảm tương ứng theo mức của giá đường mà hầu hết các Chi hội vẫn giữ  giá khuyến cáo của Hiệp hội và vẫn hỗ trợ người trồng mía tích cực hơn, đa dạng hơn, là một nỗ lực lớn của các NMĐ, đảm bảo sự yên tâm sản xuất cho người dân trồng mía, là một điển hình cho sự liên kết bền vững giữa 4 nhà theo quyết định 80/2002/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ, điều mà các nông sản khác chưa có được.

Trong 2 vụ 2011/2012 và 2012/2013, Hiệp hội  tiến hành khảo sát điều tra chi phí giá thành sản xuất mía bao gồm: giống, phân bón và thuốc trừ sâu, công chăm sóc, công thu hoạch đến chất lên phương tiện vận chuyển (chưa tính chi phí thuê đất và thuế đất nông nghiệp) ghi nhận theo báo cáo giá thành sản xuất và lợi nhuận của người nông dân như sau:

 

                                                                                                            Đơn vị: đồng/tấn

Vụ

Chỉ tiêu

Miền Bắc và Bắc Trung Bộ

Miền Trung – Tây nguyên

Miền Đông Nam bộ

Đồng bằng SCL

Trung bình

2011/2012

Giá  thành SX

628.000

680.000

680.000

650.000

659.500

Lợi Nhuận

312.000

245.000

345.000

237.500

284.875

Tỷ lệ (%)

49,7

36,0

50,7

36,5

43,20

2012/2013

Giá  thành SX

607.315

714.804

768.223

714.672

701.254

Lợi Nhuận

282.685

205.196

256.777

172.828

229.372

Tỷ lệ (%)

46,5

28,7

33,4

24,0

32,71

 

(Nguồn từ các NMĐ tháng 1/2013 và tháng 5/2013)

Bảng trên cho thấy vụ 2012 – 2013 người trồng mía cả nước có lợi nhuận giảm đáng kể so với vụ 2011 – 2012, chênh lệch giảm mức lợi nhuận từ 30 đ/kg mía (Vùng miền Bắc và Bắc Trung bộ) đến 90 đ/kg (Đông Nam bộ). Với quy mô nông hộ nhỏ, điển hình ở mức 50 – 100 tấn/hộ thì thu nhập của người trồng mía chỉ được 14,2 triệu/hộ đến 28,5 triệu/hộ vụ 2011 - 2012 và 11,5 triệu/hộ đến 23 triệu đồng/hộ vụ 2012 – 2013 – Mức thu nhập này quá thấp so với nhu cầu chi tiêu của hộ gia đình nông dân hiện nay. Tuy nhiên cần lưu ý với giá thành sản xuất mía như đã nêu lại đang cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực.     

-         Giá mía và phương thức mua mía:

Theo khuyến cáo Bộ Nông nghiệp và PTNT giá mua mía 10 CCS tại ruộng tương đương 60 kg đường trắng loại 1 trước thuế tại kho nhà máy và theo chỉ đạo của Hiệp hội, giá mía tại ruộng loại 10 CCS tối thiểu 900 đ/kg. Tuy nhiên thông thường do giá đường giảm dần từ đầu vụ đến gần cuối vụ nên giá mía cũng giảm theo. Giá mía mua tại ruộng qua các vụ thực tế  như sau:

 

Chi hội

Vụ  2010/11

(đồng/kg )

Vụ  2011/12

(đồng/kg)

Vụ 2012/13

(đồng/kg)

Miền Bắc và Bắc Trung bộ

900 – 950

(mía xô)

930-950

 (mía xô)

830 – 950

(mía xô)

Miền Trung-Tây nguyên

900- 1.050

900-950

890- 950

Miền Đồng Nam Bộ

950-1.100

950-1.100

950 - 1.100

Đồng bằng Sông Cửu Long

1.000-1.200

855- 920

855- 920

 

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của các NM)

Giá mía khu vực ĐBSCL và Đông Nam Bộ cao hơn các vùng khác, thấp nhất là miền Bắc và Bắc Trung Bộ.

IV/ Tình hình tồn kho và tiêu thụ đường ( thời vụ sản xuất- tiêu thụ- tồn kho được kể từ tháng 8 năm trước đến tháng 7 năm sau).

             Đơn vị: tấn

Vụ 2010-2011

Vụ 2011-2012

Vụ 2012-2013

Tiêu thụ

Bình quân/tháng

Tồn kho

Bình quân

Tiêu thụ

Bình quân/tháng

Tồn kho

Bình quân

Tiêu thụ

Bình quân/tháng

Tồn kho

Bình quân

91.700

227.000

111.210

200.000

111.090

315.300

 

-         Tiêu thụ bình quân hàng tháng vụ 2010/2011 là 91.700 tấn/tháng; vụ 2011/2012 là 111.210 tấn/tháng; vụ 2012/2013 là 111.090 tấn/tháng. Như vậy mức tiêu thụ vụ 2012/2013 không tăng so với vụ trước, trong khi sản lượng sản xuất tăng hơn 200.000 tấn so với vụ 2011 – 2012 và gần 400.000 tấn so với vụ 2010 – 2011.

-         Lượng đường tiêu thụ nhiều nhất rơi vào tháng 1, tháng 2 hàng năm; lượng đường tồn kho cao nhất là tháng 4, tháng 5 hàng năm, thời điểm cao nhất là tuần từ 11 đến 17 tháng 5/2013 là 589.521 tấn.

Trong 2 niên vụ vừa qua, do cung vượt cầu, cộng với đường nhập lậu ngày càng tăng nên những tháng cuối và sau vụ sản xuất  giá đường không được tốt như đầu vụ mà còn giảm sâu và giữ ở thời gian dài.

 

V/ Thuận lợi, khó khăn của ngành Mía đường Việt Nam trong nhiệm kỳ IV

V.1/ Thuận lợi

-         Sau 7 năm liên tiếp thị trường đường có cung tương đương cầu trên phạm vi thế giới, ngành mía đường Việt Nam đã khởi sắc, các nhà máy đường đã có lãi đem lại thu nhập tốt cho cổ đông, tạo động lực để các nhà máy đường đầu tư cải tiến công nghệ nâng cao quy mô tăng công suất của nhà máy và hỗ trợ nông dân đầu tư vùng nguyên liệu cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Tạo cho ngành mía đường Việt Nam có 1 sức lực khá tốt về tài chính.

-         Được sự đồng tình cao của Bộ Nông nghiệp & PTNT trong quá trình triển khai thực hiện nghị quyết của Đại hội.

-         Việc phối hợp thu mua, phân chia, đầu tư vùng nguyên liệu tốt hơn, giảm bớt sự tranh mua nguyên liệu so với các năm trước đây.

-         Được Chính phủ bảo hộ thông qua hạn ngạch thuế quan đối với đường nhập khẩu.

-         Mặc dù chưa kịp thời nhưng việc cho phép xuất khẩu đường qua cửa phụ biên giới của Bộ Công thương đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho ngành mía đường năm 2013.

V.2/ Khó khăn thách thức

-         Nhu cầu tiêu dùng đường trong nước không tăng, giá đường trong nước đứng ở mức khá cao trong 1 thời gian dài làm tăng động lực nhập lậu và gian lận thương mại đối với mặt hàng đường.

-         Mặc dù các cơ quan hữu quan có nỗ lực chống nhập lậu đường nhưng hiệu quả chưa cao, tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại đường vẫn diễn ra ngày càng công khai, quy mô lớn hơn, hợp pháp hơn.

-         Mặc dù được cấp phép xuất khẩu qua cửa phụ nhưng về tính kịp thời và hợp lý chưa cao nên việc xuất khẩu đường qua cửa phụ biên giới gặp nhiều trở ngại, chưa tận dụng được thời cơ với giá tốt nhất.

-         Do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho chất lượng và năng suất mía thấp nên giá thành mía còn cao dẫn đến giá đường khó cạnh tranh, đặc biệt là giá nhân công ngày càng cao làm cho việc huy động lao động tham gia thu hoạch mía luôn thiếu, giá thành sản xuất đường càng tăng cao từng năm.

 

PHẦN 3

KẾT QUẢ THỰC HIỆN 4 MỤC TIÊU NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ IV

A. Mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ IV:

1.      Tổ chức lại bộ máy của Hiệp hội; chọn lọc và phát triển hội viên, xây dựng văn phòng Hiệp hội.

2.      Tham mưu đề xuất Chính phủ các chính sách phù hợp.

3.      Xây dựng và ban hành các quy tắc ứng xử vùng nguyên liệu, về giá mía tối thiểu, đo CCS, mua mía theo CCS,…

4.      Hợp tác phát triển một số lĩnh vực có lợi thế ngành, xây dựng các quan hệ và hợp tác quốc tế… cải thiện vị thế ngành mía đường Việt Nam trong nền kinh tế quốc gia và khu vực.

 

            B. Kết quả thực hiện:

1.      Mục tiêu nhiệm vụ 1:

 Tổ chức lại bộ máy, chọn lọc và phát triển Hội viên, củng cố xây dựng đội ngũ văn phòng gồm: Tổng Thư ký và các chuyên viên:

-         Công tác tổ chức:

Tháng 03/2011 đã định được việc đặt trụ sở Văn phòng chính thức tại Tp. Hồ Chí Minh và chuyển Văn phòng Hiệp hội tại Hà Nội thành Văn phòng đại diện. Chuyên viên Văn phòng hiệp hội được tuyển bổ sung dần theo nhu cầu phát triển.

-         Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các văn bản pháp quy của Hiệp hội:

+        Ban Chấp hành đã phê duyệt và ban hành các Quy chế, Quy định.

+        Hội phí hàng năm được thu theo niên vụ sản xuất, mức thu trên cở sở sản lượng đối với khối sản xuất, doanh số đối với khối thương mại, và định mức đối với khối dịch vụ. Riêng khối nguyên liệu (đại diện hội nông dân) và các hội viên danh dự không đóng hội phí.

+        Thực hiện kế hoạch thu chi tài chính theo đúng quy định và chế độ của Hiệp hội.

-         Về Điều lệ của Hiệp hội:

Tại Hội nghị toàn thể ngày 27/08/2011 đã biểu quyết thống nhất điều chỉnh và bổ sung một số điều. Bộ Nội Vụ có văn bản đề nghị Ban Chấp hành hướng dẫn các nội dung của Điều lệ cho phù hợp với tình hình thực tế và theo đúng quy định của pháp luật hiện hành”.

-         Thiết lập hệ thống thông tin nội bộ:

VPHH đã được BTT và BCH cho thực hiện hệ thống thông tin nội bộ căn cứ vào quy định thông tin 2 chiều. Kết quả rất tốt về mặt gửi nhận thông tin nhanh nhạy, nhưng về mặt nội dung, đặc biệt là báo cáo tuần còn một số hội viên không cung cấp đầy đủ, kịp thời.

-         Website của Hiệp hội:

Đã thiết lập và đang hoạt động, BCH cũng đã ban hành Quy định về quản lý website. Tuy nhiên đến nay Website của Hiệp hội chưa hoạt động mạnh, nội dung bài viết và số lượng thông tin phổ biến chưa được phong phú, cần có sự phối hợp, tham gia đóng góp nhiều hơn nữa của hội viên.

-         Kết nạp Hội viên mới và chuyển đổi tư cách Hội viên:

Trong nhiệm kỳ 4, Hiệp hội đã mời Hội Nông dân ở 22 tỉnh cử đại diện tham gia hiệp hội và kết nạp thêm 6 hội viên mới.

Đến nay Hiệp hội có 44 Hội viên, gồm:

·        34 Hội viên sản xuất với 40 nhà máy đường (không kể nhà máy đường Vạn Phát ngoài Hiệp hội).

·        7 Hội viên thương Mại

·        3 Hội viên là tổng công ty, Viện nghiên cứu.

-         Họp Ban Thường trực, Ban Chấp hành và Hội nghị toàn thể:

+        Ban Thường trực và Ban Chấp hành đã tổ chức họp định kỳ theo Điều lệ và theo Quy chế.

+        Hội nghị toàn thể được tổ chức 2 lần/năm, ít nhất 1 lần/năm theo như điều lệ.

Ø    Nhận xét:

-                     Mục tiêu nhiệm vụ 1 là mục tiêu ngắn hạn và thường xuyên của việc củng cố tổ chức Hiệp hội, phát triển Hội viên, và thiết lập hệ thống thông tin, quản lý để phát triển mở rộng hơn các nhiệm kỳ trước. Hầu hết các mục tiêu đề ra đã thực hiện trong năm 2011.

2.      Mục tiêu nhiệm vụ 2:

Tham mưu đề xuất Chính phủ các chính sách phù hợp để ngành Mía – Đường Việt Nam phát triển ổn định và bền vững; trực tiếp tham gia thực hiện các giải pháp để bảo đảm lợi ích hài hòa giữa sản xuất và tiêu dùng đường trong thị trường nội địa, đồng thời góp phần bình ổn giá mía và giá đường trong nước.

-         Tham gia Tổ Điều hành thị trường trong nước:

Hiệp hội Mía Đường VN là thành viên, thực hiện đầy đủ báo cáo và tham dự đều đặn các cuộc họp hàng tháng của Tổ, vừa cung cấp thông tin vừa kiến nghị các Bộ, các cơ quan chức năng và Chính phủ về các giải pháp tháo gỡ khó khăn của ngành mía đường trong từng giai đoạn.  

-         Các đề nghị về chính sách:

Trong suốt nhiệm kỳ IV Hiệp hội đã có nhiều văn bản lên Thủ tướng và Bộ ngành để đề nghị có các chính sách, cơ chế và các biện pháp giảm khó khăn về cơ chế xuất nhập khẩu, về dự trữ lưu thông, về tạm nhập tái xuất, về năng lượng tái tạo điện bã mía, về thuế suất thuế nhập khẩu đường nhằm bảo vệ ngành đường trong nước có sức cạnh tranh để phát triển ổn định và bền vững

-         Về điều chỉnh thuế suất nhập khẩu đường:

Hiệp hội đã kiến nghị và Bộ Tài chính đã đều chỉnh nâng mức thuế nhập khẩu theo cam kết WTO có lợi cho ngành đường Việt Nam đối với mặt hàng đường thuộc nhóm 17.01 và mặt hàng thuộc nhóm 17.02 theo lộ trình hội nhập.

-         Vấn đề chống nhập lậu đường:

Hiệp hội đã có nhiều kiến nghị với Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan, đã phối hợp với các cơ quan chức năng: Cục chống buôn lậu Tổng cục Hải quan và Ban 127 tỉnh An Giang, hiệu quả chưa đạt như mong muốn.

Trong quá trình thực hiện Hiệp hội đã chi hỗ trợ và khen thưởng cho các đơn vị và cá nhân có thành tích chống buôn lậu đường với các cơ quan này.

-         Về cơ chế chính sách đối với điện bã mía:

Hiệp hội đã kiến nghị nhiều lần, đến nay Chính phủ đã công nhận và đã có ghi vào Quyết định 1208/QĐ-TTg: “Phát điện sinh khối, đồng phát nhiệt điện tại các NMĐ, đến năm 2020, nguồn điện này có tổng công suất khoảng 500 MW nâng lên 2000 MW vào năm 2030, tỉ trọng điện sản xuất tăng từ 0,6% năm 2020 lên 1,1 % năm 2030”.

-         Về Nghị định cho ngành Mía – Đường:

 Hiệp hội đã kiến nghị Bộ NN&PTNT và Bộ cũng đã đồng tình, công việc đã bắt đầu được triển khai. Hiệp hội vừa tham mưu hỗ trợ cho việc soạn thảo Nghị định này.

-         Về việc thành lập Công ty Cổ phần thương mại: đã có 08 Hội viên đăng ký tham gia, nhưng đến nay còn một số vấn đề còn vướng mắc nên chưa tiến hành được.

Ø    Nhận xét:

-                     Mục tiêu nhiệm vụ 2 là mục tiêu lâu dài, Hiệp hội đã tiếp tục triển khai trong suốt nhiệm kỳ IV và đạt được một số kết quả đáng kể.

-                     Công tác trọng điểm của mục tiêu cần thực hiện là tiếp tục hỗ trợ việc soạn thảo ban hành Nghị định về Mía – Đường; kiến nghị hoàn thiện cơ chế xuất nhập khẩu đường, cơ chế dự trữ lưu thông, chống nhập lậu đường và gian lận thương mại.

 

3.      Mục tiêu nhiệm vụ 3:

Xây dựng và ban hành các quy tắc ứng xử nội bộ, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến xây dựng và tranh chấp vùng nguyên liệu, về giá mía tối thiểu, đo CCS; mua mía theo CCS,…

-         Quy tắc ứng xử vùng nguyên liệu:

Trong năm 2011, Hiệp hội đã có Nghị quyết và Ban Chấp hành đã ban hành Quy tắc ứng xử về vùng nguyên liệu của Hiệp hội.

Đa số các nhà máy đã tuân thủ quy tắc ứng xử vùng nguyên liệu, tuy nhiên có lúc có nơi cũng xảy ra một số vụ tranh chấp nhỏ tại miền Đông Nam bộ, Miền Bắc Trung bộ và Miền Trung – Tây Nguyên nhưng chưa nghiêm trọng, Ban TT đã kịp thời tham gia giải quyết ổn thỏa.

-         Công tác chuẩn bị vụ sản xuất đầu vụ:

Các chi hội vùng đã tổ chức họp đầu vụ để chuẩn bị vào vụ của các niên vụ vừa qua trong nhiệm kỳ. Nội dung Chi hội vùng thống nhất ngày vào vụ, giá mía, các đặc điểm vùng và thực hiện quy tắc ứng xử,…

-         Vấn đề mua mía theo chất lượng:

+ Hiệp hội đã kiến nghị mua mía theo chất lượng, được Bộ NN&PTNT ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chất lượng mía nguyên liệu có CCS ≥ 9, tạp chất ≤ 3%

+ Hiệp hội đã phối hợp với Cục Chế biến Thương mại Nông Lâm Thủy sản và Nghề muối tổ chức tập huấn triển khai thực hiện Quy chuẩn tại 3 địa điểm cho 4 vùng miền cho cán bộ Hội viên Hiệp hội và luôn cả cho cán bộ quản lý của địa phương các tỉnh có nhà máy đường.

-         Xây dựng giá mía tối thiểu:

Đã xây dựng và ban hành giá mía tối thiểu trên cơ sở người nông dân trồng mía có lãi 30%  ( phù hợp đặc điểm canh tác ở mỗi chi hội vùng). Tuy nhiên, công tác kiểm tra việc thực hiện giá tối thiểu, đánh giá việc xây dựng vùng nguyên liệu, kiểm tra thực hiện quy chuẩn kỹ thuật nguyên liệu mía trong nhiệm kỳ IV chưa thực hiện được.

Ø    Nhận xét:

-                     Đây là mục tiêu nhiệm vụ lâu dài, tình hình thực tế tại các vùng đã có tiến bộ hơn qua các vụ sản xuất. Tuy vậy, các Chi hội vùng vẫn cần phải bổ sung các điểm đặc thù vào Quy tắc ứng xử đã ban hành.

-                     Về Quy chuẩn nguyên liệu mía, theo quy định là  áp dụng trong niên vụ 2012-2013. Tuy vậy vẫn còn một số NMĐ tiếp tục mua mía xô.

4.   Mục tiêu nhiệm vụ 4:

Hợp tác phát triển một số lĩnh vực có lợi thế ngành,  xây dựng các quan hệ và hợp tác quốc tế nhằm nâng cao năng lực trình độ sản xuất kinh doanh Mía – Đường Việt Nam, cải thiện vị thế ngành Mía – Đường Việt Nam trong nền kinh tế quốc gia và khu vực.

Hiệp hội đã thực hiện  các công tác của mục tiêu nhiệm vụ 4 như sau:

-         Về tăng cường̣ hợp tác quốc tế

+       Hiệp hội đã được Bộ NN & PTNT ủy nhiệm làm đại diện chính thức của Việt Nam tại Tổ chức Đường Thế giới (ISO) kể từ năm 2011. Hiệp hội và ISO đã liên lạc thường xuyên, qua đó Hiệp hội nhận được nhiều thông tin từ ISO và đã chuyển tải những thông tin hữu ích này đến các thành viên Hiệp hội.

+       Hiệp hội đã thông báo và tổ chức các đoàn tham dự một số Hội nghị quốc tế về ngành đường cũng như tham dự các Hội nghị của ISO.

-         Hội thảo chuyên đề trong nước:

+       Trong năm 2011, Hiệp hội đã tổ chức 01 cuộc hội thảo kỹ thuật trong nước về “Công nghệ làm sạch” tại Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

+      Năm 2013, bên cạnh Hội nghị Tổng kết vụ Mía - Đường 2012/2013 tại Vị Thanh, Hiệp hội tổ chức hội thảo, có 11 công ty trong nước và nước ngoài giới thiệu công nghệ và thiết bị mới của nước ngoài áp dụng cho ngành mía đường./.

 

 

------------------

Ban Quản trị Website Hiệp hội

 

Các tin khác

A PHP Error was encountered

Severity: Notice

Message: Undefined offset: 1

Filename: controllers/template.php

Line Number: 132

A PHP Error was encountered

Severity: Notice

Message: Undefined offset: 1

Filename: controllers/template.php

Line Number: 134

A PHP Error was encountered

Severity: Notice

Message: Undefined offset: 1

Filename: controllers/template.php

Line Number: 136

Thống kê truy cập

Online: 4 Lượt truy cập: 476779
Design by ISP