TỔNG QUAN NGÀNH MÍA ĐƯỜNG VIỆT NAM

05-04-2017

1.1.           Tổng quan về ngành sản xuất mía đường Việt Nam - Sơ lược v phát trin công nghip mía đường ti Vit Nam và thế giới

1.1.1.     Lịch sử cây mía

-       Theo nhiều tài liệu khác nhau cho biết cây mía nguyên thủy đã có từ kỷ đá phấn (Creta) trên lục địa Á – Úc khi còn liền một dải.

-       Đến 15.000 – 6.000 năm trước công nguyên người thổ dân ở Tân – Guinée đã biết trồng mía.

-       Khoảng  4.000 – 3.000 năm trước công nguyên mía được lan truyền nhiều vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, trong đó có Việt Nam, nhân dân ta đã biết làm đường thủ công từ mía trong đó có “thạch mật” (tức đường phèn) mà khoảng 200 năm trước công nguyên nước ta đã dùng làm cống phẩm cho triều đình phong kiến phương Bắc.

-       Cây mía phù hợp với điều kiện tự nhiên: ánh nắng, nhiệt độ, ẩm độ không khí và lượng mưa, đa dạng sinh thái và thổ nhưỡng của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới tập trung giữa 30 vĩ độ Bắc và 30 vĩ độ Nam. Nước Việt Nam ta trải dài từ 8 đến 23 vĩ độ bắc nên rất phù hợp cho cây mía.

1.1.2.     Sự phát triển ngành mía đường ở Việt Nam đến năm 1975

-       Cho đến trước thời Pháp thuộc, nước ta chỉ làm đường thủ công dưới dạng: mật đường (đường trầm, đường thùng), đường tán, đường thẻ, đường phèn, đường phổi, đường bông …

+        Miền Bắc có các vùng mía đường như: Sơn Tây, Vĩnh Yên, Bắc Giang, Hà Nội, Nam Định, Thái Bình…

+        Miền Trung có các vùng mía đường như: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.

+        Miền Nam có  các vùng mía đường như: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Tân An, Bến Tre.

-       Trong thời Pháp thuộc (1870 – 1945) và kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

+        Công ty người Pháp thành lập nhà máy đường đầu tiên tại Biên Hòa với công suất rất nhỏ vào năm 1870 và đến năm 1872 công suất định hình 500 tấn mía/ngày (TMN). Sau đó có thêm các công ty khác khai thác NMĐ tại Biên Hòa và xây dựng NMĐ tại Tây Ninh nhưng đều thất bại.

+        Năm 1927, Công ty đường Trung Kỳ (của Pháp) xây dựng tại Đồng Bò  - Phú Yên NMĐ 400 TMN, bắt đầu sản xuất năm 1930 (năm 1945 NMĐ này đã sản xuất được 19.843 tấn đường).

+        Năm 1925, Công ty đường Đông Dương (của Pháp) phát triển một NMĐ công suất 150 TMN lên 300 TMN tại Hiệp Hòa – Long An, đến năm 1930 lắp thêm 1 dây chuyền 600 TMN, tổng công suất 2 dây chuyền là 900 TMN. NMĐ này hoạt động cho đến sau thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

+        Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, các NMĐ phần lớn nằm trong vùng ta quản lý nên máy móc xưởng cơ khí ta tháo gỡ đem về công binh xưởng. Các lò đường thủ công ngưng hoạt động, diện tích trồng mía giảm. Do đó chính quyền Pháp tại Việt Nam cho nhập đường về để phục vụ nhu cầu lúc bấy giờ:

·        Từ 1951 – 1955: nhập 143.788 tấn đường thô, 122.327 tấn đường trắng.

·        Trong khi sản xuất chỉ được: 20.517 tấn đường thô, 4.802  tấn đường trắng.

-       Tình hình công nghiệp mía đường Việt Nam từ 1954 – 1975

+        Miền Bắc: xây dựng các NMĐ

·        Việt Trì: 350 TMN (1958)

·        Sông Lam: 350 TMN (1959)

·        Vạn Điểm: 1.000 TMN (1961)

+        Miền Nam: xây dựng các NMĐ

·        Hiệp Hòa từ 900 TMN nâng lên 1.500 TMN (1963).

·        Biên Hòa từ NMĐ áp (affinée) 60.000 tấn/năm (1966) sau đó xây dựng NMĐ đường luyện 200 tấn/ngày (1969) công nghệ Nhật Bản hiện đại nhất Đông Nam Á thời bấy giờ.

·        Khánh Hội từ NMĐ áp 70 tấn/ngày (1953) nâng cấp lên thành NMĐ luyện 150 tấn/ngày (1964).

·        Phan Rang: 300 TMN (1975 – thiết bị cũ của Hiệp Hòa).

·        Bình Dương: 1.500 TMN (1966 – thiết bị Nhật Bản, do chiến tranh nên 1974 mới hoạt động).

·        Quảng Ngãi: 1.500 TMN (1966– thiết bị Nhật Bản, do chiến tranh nên 1975 mới hoạt động).

Bảng: Tình hình sản xuất mía đường ở Việt Nam từ 1930 – 1975

Năm

Diện tích (ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng mía cây (tấn)

1930

1940

1955

1960

1965

1970

1975

36.000

38.000

38.800

33.600

53.300

27.700

53.800

21,5

21,6

25,3

43,3

35,4

32,8

30,4

760.200

820.400

859.700

1.456.000

1.845.000

886.300

1.637.600

 

 

1.1.3.     Tình hình công nghiệp mía đường từ sau năm 1975 đến 1995

Sau thống nhất đất nước 1975, ngành mía đường được thống nhất quản lý cả nước. Với hiện trạng tại thời điểm 1975, Việt Nam phát triển thêm các NMĐ sau đây:

-       Nhà máy đường thô La Ngà (1979 – 1984) – 2.000 TMN do Đan Mạch viện trợ 50%.

-       Nhà máy đường thô Lam Sơn (1981 – 1986) – 1.500 TMN do Pháp viện trợ phần thiết bị (nhưng dang dở thì bị Pháp cắt vốn vì cấm vận nên Việt Nam tiếp tục hoàn thiện để hoàn tất).

-       Nhà máy đường Nước Trong – Tây Ninh – 500 TMN do Cuba giúp xây dựng (1990).

-       Nhà máy đường Tuy Hòa: 1.250 TMN (1996) do Việt Nam xây dựng, công nghệ thiết  bị được nhập từ Ấn Độ.

-       Nhà máy đường Ninh Hòa: 1.250 TMN (1996) do tỉnh Khánh Hòa xây dựng, thiết bị nhập và phần lớn chế tạo tại Việt Nam.

Bảng: Tình hình sản xuất mía đường ở Việt Nam từ 1975 – 1995

Năm

Diện tích (ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng mía cây (tấn)

1975

1980

1985

1990

1991

1992

1993

1994

1995

53.800

109.800

143.200

130.600

143.700

146.500

143.200

166.600

216.300

30,4

39,6

38,8

37,5

42,6

43,9

42,6

45,3

48,4

1.637.600

4.358.900

5.559.700

5.397.700

6.130.900

6.437.000

6.083.000

7.546.900

9.500.000

 

1.1.4.     Tình hình phát triển công nghiệp sản xuất đường kể từ chương trình 1 triệu tấn đường vào năm 2000 đến nay:

Trước chương trình mía đường (trước năm 2000):

-        Cả nước chỉ sản xuất được khoảng  500.000 tấn đường/vụ kể cả đường công nghiệp và  thủ công, phải nhập khẩu hàng năm khoảng 200.000 – 300.000 tấn.

-       Về năng lực sản xuất lúc bấy giờ phía Bắc thì có các nhà máy đường:

+        Việt Trì     :    500 TMN (nay đã không hoạt động nữa)

+        Lam Sơn   : 1.500 TMN

+        Sông Lam :    350 TMN

Phía Nam gồm các nhà máy đường:

+        Quảng Ngãi :   1.500 TMN

+        Đồng Xuân  :      100 TMN (nay thuộc KCP)

+        Diên Khánh :      200 TMN (nay đã không hoạt động nữa)

+        Phan Rang:         750 TMN (mở rộng từ 300 TMN)

+        La Ngà:             2.000 TMN (sản xuất đường thô)

+        Bình Dương :  1.500 TMN (nay đã không hoạt động nữa, chuyển cho Long Mỹ Phát)

+        Hiệp Hòa     :   1.500 TMN

+        Nước Trong:       900 TMN (mở rộng từ 500 TMN)

Và 2 nhà máy đường luyện từ nguyên liệu đường thô nhập khẩu và một ít đường thủ công trong nước:

+        Khánh Hội    : 120 tấn/ngày (nay đã chuyển dây chuyền luyện cho nhà máy đường La Ngà).

+        Biên Hòa       : 200 tấn/ngày

Phần lớn các nhà máy đường mía sản xuất đường trắng đồn điền (plantation white sugar) theo phương pháp sulphít hóa, đạt chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế với độ màu 150 ICUMSA.

Ghi chú: Đơn vị độ màu ICUMSA dùng để xác định độ màu đường, từ ICUMSA là từ ghép tắt của cụm từ “International Commission for Uniform Method of Sugar Analysis”, là đơn vị quốc tế nên còn gọi là IU (International Unit).

Nhà máy đường luyện Biên Hòa áp dụng phương pháp Carbonat hóa kép ( double carbonatation process), tẩy màu bằng than hoạt tính và Resin trao đổi ion cùng hệ thống lọc 4 cấp có lọc ceramic. Nhà máy đường luyện Khánh Hội áp dụng phương pháp phốt phát hóa ( phosphatation process); tẩy màu bằng than hoạt tính và Resin trao đổi ion.

Sản phẩm đường luyện (Refined Sugar) Khánh Hội và Biên Hòa đạt chất lượng đường luyện hảo hạng RE (Raffiné Extra) với độ màu ≤ 30 ICUMSA (độ màu có thể đạt  ≤ 30 ICUMSA nếu có yêu cầu) và đường luyện tiêu chuẩn RS (Raffiné Standard) với độ màu 30 – 60 ICUMSA.

Chương trình mía đường:

Đến năm 2000 sau khi hoàn thành chương trình mía đường năng lực sản xuất đạt 1 triệu tấn/vụ với việc mở rộng các nhà máy cũ và hàng loạt nhà máy đường mới ra đời,  trong loạt NMĐ mới này phần lớn là dây chuyền thiết bị của Trung Quốc, một số ít từ Ấn Độ (Tuy Hòa, Phụng Hiệp, KCP, Nagarjuna (nay là NIVL), và một số nhà máy đường hiện đại với dây chuyền hoặc thiết bị được cung cấp từ các nước Úc, Mỹ, Đức, Châu Âu, Nhật (nhà máy đường Việt Đài, Tate & Lyle Nghệ An, Quảng Nam, Cà Mau, Kiên Giang, Biên Hòa – Tây Ninh, Bourbon Tây Ninh, Khánh Hòa).

Hầu hết loạt nhà máy đường Trung Quốc có công suất nhỏ 1000TMN.

Ghi chú: thực chất dây chuyền này có công suất nguyên thủy là 1.500TMN, nhưng khi Việt Nam ký hợp đồng mua nhà máy đường có công suất 1.000TMN thì phía Trung Quốc loại bỏ một số thiết bị công nghệ để cân đối đạt yêu cầu 1.000TMN, còn thiết bị động lực lò hơi và turbo phát điện vẫn giữ nguyên cho công suất 1.500TMN.

            Với thiết bị thuộc thế hệ cũ, chỉ được trang bị các dụng cụ kiểm soát thông số công nghệ cơ bản chứ không tự động hóa.

Về công nghệ hầu hết áp dụng phương pháp sulphít hóa như các nhà máy cũ Quảng Ngãi, Bình Dương, Hiệp Hòa. Các nhà máy Quảng Nam, Cà Mau, Kiên Giang áp dụng phương pháp phốt phát hóa (nhà máy đường Quảng Nam nay đã chuyển đến nhà máy đường Đồng Xuân – Phú Yên, thuộc KCP).

Hoàn tất chương trình mía đường với tất cả 44 NMĐ cả cũ và mới có tổng công suất ép mía 81.500 TMN. Nếu đủ mía nguyên liệu với tổng công suất này sản lượng đường đạt 1 triệu tấn/vụ.                                                                                     

-        Dự án Cam Ranh, đang xin điều chỉnh công suất lên 6.000 TMN.

-        Vụ 2000 – 2001, cả nước có 44 nhà máy (5 nhà máy mới mở rộng), với tổng công suất 78.200 TMN

 

Khủng hoảng sau khi kết thúc chương trình mía đường:

Sau chương trình mía đường, ngành đường Việt Nam bị rơi vào khủng hoảng từ 1999 - 2002, giá đường tụt thảm hại làm cho hầu hết nhà máy đường thua lỗ, nông dân thiệt hại nên sản lượng mía giảm.

Giai đoạn phục hồi sau khủng hoảng:

Sau giai đoạn này nhờ Chính phủ tái cơ cấu lại cùng với chương trình cổ phần hóa theo Quyết Định 28 nên ngành đường bắt đầu phục hồi và khởi sắc.

Từ đó các nhà máy có điều kiện và thêm sự thuận lợi kinh tế chung phát triển, giá đường giá mía tốt hơn nên phần lớn các nhà máy đường đã đầu tư, cải tạo, nâng cấp từ công suất đến công nghệ, thiết bị, cung cấp năng lượng… và nâng cấp chuyển đổi sản phẩm từ đường thô sang đường trắng và từ đường trắng sang đường luyện đồn điền (plantation refined sugar). Ngay cả chất lượng đường trắng đồn điền cũng được nâng cấp từ độ màu 150 – 160 ICUMSA xuống độ màu thấp 80 – 120 ICUMSA, thậm chí có lúc có nơi còn thấp hơn.

1.1.5.     Tình hình phát triển đường trên thế giới

Trên thế giới sản xuất đường saccharofe từ 2 loại nguyên liệu là củ cải đường ở vùng ôn đới, và mía ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.

Đến nay  đường sản xuất từ mía chiếm tỉ lệ lớn khoảng 80%, phần còn lại là từ củ cải đường.

Với ưu thế cây mía nguyên liệu cho ra sản phẩm đường là thực phẩm năng lượng, đường trong cây mía và xơ của cây mía là nguyên liệu chế biến thành cồn, ngoài cồn thực phẩm, cồn công nghiệp thì cồn nhiên liệu góp phần vào nguồn nhiên liệu lỏng cung cấp cho mục tiêu vận tải. Do đó hiện nay về mặt kinh tế, giá cả của đường luôn luôn biến động theo biến động của giá xăng dầu. Về mặt giá trị năng lượng, cây mía có thành phần xơ cao hơn nhiều củ cải đường, do đó xơ mía là nhiên liệu trực tiếp để đốt lò hơi cho sản xuất nhiệt điện tự cung cấp cho nhà máy đường, không những thỏa mãn nhu cầu nhiệt, điện cho sản xuất mà còn dư thừa đáng kể để cung cấp lên lưới quốc gia, đem lại hiệu quả cao hơn cho sản xuất đường, góp phần làm cho ngành đường là một ngành sản xuất xanh, bảo vệ tốt môi trường sẽ được đề cập ở phần sau.

Bảng: Tình hình sản xuất, tiêu thụ đường thế giới 15 năm nay (từ vụ 2001 – 2002 đến 2013 – 2014 và dự báo vụ 2014 – 2015) - Nguồn: ISO - World Sugar Balances August/2014

  Đơn vị: triệu tấn quy về đường thô

         Vụ

2014/2015

2013/2014

2012/2013

2011/2012

2010/2011

2009/2010

2008/2009

Sản xuất

183,752

182,737

185,345

174,801

165,595

158,14

149,542

Tiêu thụ

182,446

178,746

175,604

168,724

164,112

162,925

162,614

Dư/ thiếu

1,306

3,991

9,742

6,077

1,483

-4,875

-13,072

         Vụ

2007/2008

2006/2007

2005/2006

2004/2005

2003/2004

2002/2003

2001/2002

Sản xuất

166,996

166,681

150,543

140,694

142,767

148,628

137,724

Tiêu thụ

161,319

156,224

151,709

147,574

143,332

142,474

136,395

Dư/ thiếu

      5,677

     10,457

     -1,166

      -6,883

     -565

     6,154

      1,329

 

./.

 

A PHP Error was encountered

Severity: Notice

Message: Undefined offset: 1

Filename: controllers/template.php

Line Number: 132

A PHP Error was encountered

Severity: Notice

Message: Undefined offset: 1

Filename: controllers/template.php

Line Number: 134

A PHP Error was encountered

Severity: Notice

Message: Undefined offset: 1

Filename: controllers/template.php

Line Number: 136

Thống kê truy cập

Online: 3 Lượt truy cập: 588769
Design by ISP